Các Tiêu Chuẩn Chẩn Đoán Bệnh Viêm Khớp Dạng Thấp Mới Nhất

Các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh viêm khớp dạng thấp mới nhất

Thứ Sáu, 02-03-2018

Viêm khớp dạng thấp là một dạng viêm khớp tự miễn, có các dấu hiệu khá dễ nhầm lẫn với thoái hóa khớp, bệnh gout mạn tính, viêm khớp vảy nến, lupus ban đỏ hệ thống,… Vì vậy, bác sĩ chuyên khoa cần phải dựa trên các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh viêm khớp dạng thấp để đưa ra kết luận chính xác về căn bệnh này.

Viêm khớp dạng thấp là bệnh lý tự miễn có diễn biến mạn tính với các tổn thương tại khớp, ngoài khớp và toàn thân ở nhiều mức độ khác nhau. Nguyên nhân gây bệnh viêm khớp dạng thấp chưa được làm rõ nhưng có liên quan đến nhiễm khuẩn, cơ địa (nữ giới, trung niên, yếu tố HLA) và rối loạn đáp ứng miễn dịch.

Bệnh viêm khớp dạng thấp diễn biến cực kỳ phức tạp, để lại hậu quả nặng nề lên cơ thể người bệnh, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, cũng như cuộc sống bệnh nhân. Vì vậy, khi phát hiện bị viêm khớp dạng thấp, bệnh nhân cần phải được điều trị sớm và tích cực ngay từ giai đoạn đầu để làm ngưng hoặc làm chậm tiến triển của bệnh, hạn chế di chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh viêm khớp dạng thấp mới nhất

Để có thể chẩn đoán chính xác bệnh viêm khớp dạng thấp và đưa ra các phác đồ điều trị phù hợp, cần phải dựa trên các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh viêm khớp dạng thấp dưới đây:

1 –  Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm khớp dạng thấp của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ 1987 (ACR – American College of Rheumatology)

Mặc dù tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh viêm khớp dạng thấp của ACR ra đời khá lâu nhưng cho đến nay vẫn đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới, cũng như ở Việt Nam trong trường hợp viêm khớp trên 6 tuần và thể biểu hiện nhiều khớp. Theo đó, các tiêu chuẩn chẩn đoán bao gồm:

  • Cứng khớp buổi sáng: 

Tình trạng cứng khớp xảy ra vào buổi sáng, kéo dài ít nhất 1 tiếng đồng hồ trước khi bệnh nhân thấy có cải thiện.

  • Viêm khớp tối thiểu 3 nhóm khớp: 

Có ít nhất 3 khớp đồng thời xuất hiện tình trạng sưng mô mềm hoặc tràn dịch trong số 14 nhóm khớp (kể cả hai bên trái và phải) là: khớp ngón gần bàn tay, khớp bàn ngón tay, khớp cổ tay, khớp khuỷu, khớp gối, khớp cổ chân – mắc cá và khớp bàn ngón chân. (Tình trạng phì đại xương đơn độc không thuộc tiêu chuẩn này)

  • Viêm khớp ở các khớp bàn tay:

Viêm sưng tối thiểu 1 nhóm khớp (trong 14 nhóm khớp trên) tại các vị trí như khớp cổ tay, khớp gian đốt ngón gần, khớp bàn ngón tay.

  • Viêm khớp đối xứng:

Viêm khớp có tính chất đối xứng, tác động đồng thời các khớp giống nhau ở cả hai bên cơ thể. Khớp liên đốt ngón gần, khớp bàn ngón tay hoặc khớp bàn ngón chân được chấp nhận là đối xứng ngay cả khi không giống nhau giữa hai bên.

  • Các hạt thấp dưới da:

Xuất hiện các hạt thấp dưới da ở các vùng củ xương, bề mặt duỗi hoặc các vùng gần mặt khớp được phát hiện khi thăm khám.

  • Yếu tố dạng thấp trong huyết thanh dương tính:

Có sự tăng cao bất thường nồng độ yếu tố dạng thấp trong huyết thanh khi làm xét nghiệm theo bất kỳ phương pháp nào, miễn là xét nghiệm đó cho kết quả dương tính (+) ở nhóm chứng là người bình thường dưới 5%.

  • Dấu hiệu X-quang điển hình:

Các biển đổi điển hình của viêm khớp dạng thấp trên phim X-quang cổ tay, bàn tay hoặc khớp tổn thương trước sau bao gồm: hình ảnh bào mòn, khuyết hoặc mất chất khoáng đầu xương rõ rệt mang tính chất khu trú, được thấy rõ ở vùng lân cận các khớp bị tổn thương.

Mỗi tiêu chuẩn này tương ứng với 1 điểm. Như vậy:

  • Từ 0-2 điểm: Ít khả năng chẩn đoán viêm khớp dạng thấp
  • Từ 2-3 điểm: Không thể loại trừ được chẩn đoán viêm khớp dạng thấp
  • Từ 4 điểm trở lên: chẩn đoán xác định bị viêm khớp dạng thấp.

Triệu chứng viêm khớp (Cứng khớp buổi sáng, viêm khớp tối thiểu 3 nhóm khớp, viêm khớp ở các khớp bàn tay, viêm khớp đối xứng) cần phải có thời gian diễn biến trên 6 tuần và được xác định bởi bác sĩ chuyên khoa xương khớp.

Lưu ý:

Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh viêm khớp dạng thấp ACR 1987 có độ nhạy từ 91- 94% và độ đặc hiệu 89% ở những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp đã tiến triển. Với bệnh nhân mới phát bệnh, độ nhạy chỉ dao động từ 40-90% và độ đặc hiệu từ 50-90%.

2 – Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh viêm khớp dạng thấp của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ và Liên đoàn chống Thấp khớp Châu Âu 2010 (ACR/EULAR 2010 – American College of Rheumatology/ European League Against Rhumatism)

Đây là tiêu chuẩn có thể áp dụng trong trường hợp bệnh ở giai đoạn sớm, mới phát, các khớp viêm dưới 6 tuần và ở thể viêm ít khớp. Đối tượng chẩn đoán của tiêu chuẩn này là những bệnh nhân có ít nhất 1 khớp được xác định viêm màng hoạt dịch trên lâm sàng và viêm màng hoạt dịch khớp không do các bệnh lý khác. Các tiêu chuẩn chẩn đoán cụ thể như sau:

  • Biểu hiện tại khớp: 

– Viêm 1 khớp lớn ⇒ 0 điểm

– Viêm 2 -10 khớp lớn ⇒ 1 điểm

– Viêm 1 – 3 khớp nhỏ (có hoặc không có biểu hiện tại các khớp lớn) ⇒ 2 điểm

– Viêm 4-10 khớp nhỏ (có hoặc không có biểu hiện tại các khớp lớn) ⇒ 3 điểm

– Viêm >10 khớp (ít nhất phải có 1 khớp nhỏ) ⇒ 5 điểm

  • Xét nghiệm huyết thanh (phải làm ít nhất 1 xét nghiệm huyết thanh):

– RF âm tính và Anti CCP âm tính ⇒ 0 điểm

– RF dương tính thấp hoặc Anti CCP dương tính thấp ⇒ 2 điểm

– RF dương tính cao hoặc Anti CCP dương tính cao ⇒ 3 điểm

  • Xét nghiệm các yếu tố phản ứng pha cấp (phải làm ít nhất 1 xét nghiệm huyết thanh):

– CRP bình thường và tốc độ lắng máu bình thường ⇒ 0 điểm

– CRP tăng hoặc tốc độ lắng máu tăng ⇒ 1 điểm

  • Thời gian biểu hiện các triệu chứng:

– Dưới 6 tuần ⇒ 0 điểm

– Từ 6 tuần trở lên ⇒ 1 điểm

Như vậy, theo tiêu chuẩn chẩn đoán này, nếu bệnh nhân có từ 6 điểm trở lên thì chẩn đoán xác định viêm khớp dạng thấp.

Lưu ý: 

Với tiêu chuẩn này, bệnh nhân cần được theo dõi thường xuyên và đánh giá lại chẩn đoán vì có nhiều trường hợp có thể là biểu hiện sớm của một bệnh lý về khớp nào đó không phải viêm khớp dạng thấp.

Ngoài 2 tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh viêm khớp dạng thấp trên đây, để đưa ra được kết luận chính xác về viêm khớp dạng thấp, người bệnh cần thực hiện thêm các xét nghiệm cận lâm sàng như xét nghiệm tế bào máu ngoại vi,tốc độ máu lắng, protein phản ứng C (CRP), xét nghiệm chức năng gan, thận, Xquang tim phổi, điện tâm đồ,… và chẩn đoán phân biệt với các bệnh thoái hoá khớp, gout mạn tính, viêm khớp vảy nến, viêm cột sống dính khớp, lupus ban đỏ hệ thống…

BẠN ĐỌC CÓ THỂ TÌM HIỂU THÊM:

Trở thành người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *